LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN vấn đề phát
triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối
với nềnkinh tế Việt Nam. Kinh tế tư bản tư nhân là một bộ phận trong cơ cấu ấy
đã có một thời kỳ bị coi là đối lập với kinh tế XHCN, vì vậy phải nằm trong diện
cải tạo xoá bỏ. Song thực tiễn đã cho thấy quan niệm như vậy là cực đoan và sự
xuất hiện trở lại của kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần không nhỏ vào sự thay
đổi bộ mặt của nền kinh tế theo hướng tích cực. Cùng với chủ trương chuyển nền
kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường , Đảng và nhà nước Việt Nam đã ban
hành nhiều chủ trương, chính sách để khuyến khích sự phát triển của các thành
phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư bản tư nhân. Tuy nhiên, kinh tế tư bản tư
nhân, thành phần kinh tế non trẻ của nước ta đang phải đối
diện với nhiều khó khăn, thách
thức. Nhiều vấn đề bất cập trong xã hôi, trong chủ trương chính sách và tổ chức
quản lý đang là trở ngại cho sự phát triển của thành phần kinh tế
này.
Nền
kinh tế Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Cơ hội phát
triển rút ngắn, thực hiện thành công CNH, HĐH phấn đấu đưa Việt Nam về cơ bản
trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hiện thực. Tuy nhiên, để thực
hiện được mục tiêu này đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn với sự giải phóng tối đa
lực lượng sản xuất xã hội. Trong bối cảnh các nguồn lực kinh tế của Việt Nam còn
đang hạn chế, xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, còn kinh tế tư bản tư
nhân như một động lực phát triển cơ bản là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn.
Trong những năm vừa qua mặc dù đã có bước phát triển tốt, kinh tế tư bản tư nhân
Việt Nam vẫn chưa thực sự có được một vai trò tương xứng với tiềm năng của nó.
Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau đây
:
Vai
trò, thực trạng của kinh tế tư bản tư nhân, đánh giá kinh tế tư bản tư nhân và
một số phương hướng giải
pháp.
Tuy
nhiên, do thời gian và không gian có hạn cho nên việc thu thập số liệu và tài
liệu vẫn chưa đựơc cập nhật vì thế không tránh khỏi những thiếu sót mong bạn đọc
thông cảm, hoan nghênh tất cả những ý kiến đóng góp cho đề
án.
Tôi
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn cùng các bạn đã giúp đỡ
tôi trong quá trình làm đề
án.
Tác
giả.
CHƯƠNG
I
KHÁI
QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN
TRONG
NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
I.
CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA
1. Thành
phần kinh tế cá thể ,tiểu
chủ.
Kinh
tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả
năng lao động của bản thân người lao
động.
Kinh
tế tiểu chủ cũng chính là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao
động và vốn của bản thân và gia
đình.
Kinh
tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông
thôn và thành thị, có điều kiện phat huy nhanh tiềm năng về vốn sức lao động,
tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản xuất,
kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến
khích.
Hiện
nay, ở nước ta, thành phần kinh tế này phần lớn hoạt động dưới hình thức hộ gia
đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng,
lâu dài. Đối với nước ta, cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để vừa
góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết nhiều việc làm
cho người lao động - một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống kinh tế xã hội.
Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng trong
nông lâm ngư nghiệp và thương mại, dịch vụ. Nó đã góp phần quan trọng vào các
thành tựu kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể tiểu chủ
dù cố găngs đến bao nhiêu cũng không loại bỏ được những hạn chế vốn có như: tính
tự phát , manh mún, hạn chế về kỹ thuật. Do đó Đảng ta chỉ rõ: cần giúp đỡ kinh
tế cá thể, tiểu chủ, giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn, về khoa học kỹ thuật
và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX viết: “ Nhà nước tạo điều kiện và
giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm
vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn“. Phát triển các loại hình
thông tin với qui mô phù hợp trên từng địa
bàn.
http://tailieuvang.blogspot.com/2012/12/vai-tro-thuc-trang-cua-kinh-te-tu-ban-tu-nhan-danh-gia-kinh-te-tu-ban-tu-nhan-va-mot-so-phuong-huong-giai-phap.html
2.
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân
.
Kinh
tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động
làm thuê.
Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thành phần này có vai
trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất ,xã hội hoá sản
xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là thành
phần kinh tế rất năng động nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những
đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hiện nay,
kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát triển, nhưng phần lớn tập trung vào
lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản; đầu tư vào sản xuất con
ít và chủ yếu quy mô vừa và nhỏ
.
Chính
sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích tư bản tư nhân bỏ vốn đầu tư phát
triển sản xuất, đáp ứng các nhu cầu của dân cư. Nhà nứoc bảo hộ quyền sở hữu và
lợi ích hợp pháp của họ; xoá bỏ định kiến và tạo điều kiện thuận lợi về tín
dụng, về khoa học công nghệ , về đào tạo cán bộ - cho thành phần kinh tế này.
Tuy nhiên, đây là thành phần kinh tế có tính tự phát rất
cao. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX có đoạn
viết:” Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành
nghề sản xuất , kinh doanh mà pháp luật không cấm . Tạo môi trưòng kinh doanh
thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế ư bản tư nhân phát triển trên những
định hướng ưu tên của Nhà nước , kể cả đầu tư ra nước ngoài ; khuyến khích
chuyển thành doanh nghiệp cổ phần , bán cổ phiếu cho người lao động , liên doanh
, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước , xây dựng quan hệ
tốt với chủ doanh nghiệp và người lao động
.
II
. CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC KINH DOANH CƠ BẢN
.
1.
Doanh nghiệp tư nhân
.
Doanh
nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
Doanh
nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập làm
chủ. Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng
là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường chủ doanh nghiệp là
giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng cũng
có trường hợp vì những lí do cần thiết, chủ doanh nghiệp không trực tiếp điều
hành hoạt động kinh doanh mà thuê người khác làm giám đốc. Nhưng dù trực tiếp
hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ
doanh nghiệp tư nhân quản lý và tự chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro
với ai
Chủ
doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiêm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm ăn phát
đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng toàn bộ số lợi đó.
Ngược lại, nếu gặp rủi ro hay kinh doanh bị thua lỗ, họ phải chịu trách nhiệm
bằng chính tài sản của doanh
nghiệp.
2.
Công ty trách nhiệm hữu
hạn.
Công
ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp có không quá 50 thành viên góp vốn thành
lập công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của
mình.
Công
ty trách nhiệm hữu hạn có thể chỉ có một thành
viên.
Công
ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụtài sản khác của công ty
bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn). Thành viên công ty chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và các nghiac vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn
đã cam kết góp vào công ty. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
thì chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Như vậy, trong
công ty trách nhiệm hữu hạn có sự phân tách tài sản: tài sản của công ty và tài
sản của thành viên. Nguyên tắc phân tách được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản,
nợ nần và trách nhiệm của công
ty.
Công
ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để công
khai huy động vốn. Việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm
hữu hạn trước hết phải ưu tiên cho các thành viên khác của công ty. Chỉ được
chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn
lại của công ty không mua hoặc không mua hết. Đối với công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên thì chủ sở hữu công ty ó quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một
phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân
khác.
3. Công
ty cổ phần
.
Công
ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, ngưòi sở hữu cổ phần gọi là cổ đông,
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà
họ sở hữu.
Trong
suốt quá trình hoạt động của công ty cổ phần ít nhất phải có 3 thành viên tham
gia công ty cổ phần. Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn cho nên có sự
liên kết của nhiều thành viên và vì vậy việc quy định số thành viên tôis
thiểu phải có đã trở thành thông
lệ quôcs tế trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần. Ở hầu hết các nước
đều có quy định số thành viên tốithiểu của công ty cổ
phần.
Phần
vốn góp (cổ phần ) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các
cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hoá. Người có cổ phiếu có thể tự
do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Công ty cổ phần chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách
nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp
vào công ty. Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành chứng
khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về
chứng khoán để huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của
công ty cổ
phần.
4.
Công ty hợp danh.
Công
ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một hình thức của công ty đối nhân, trong
đó có ít nhất 2 thành viên (đều là cá nhân và là thương nhân) cung tiến hành
hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hãng chung (hay hội danh) và
cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công
ty.
Ngoài
các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải
là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp
vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp
vào công
ty.
Do
tính an toàn pháp lý đối với công chúng cao, mặt khác các thành viên thường có
quan hệ mật thiết về nhân thân, nên việc quản lý công ty hợp danh chịu rất ít sự
ràng buộc của pháp luật. Về cơ bản, các thành viên có quyền tự thoả thuận về
việc quản lý, điều hành công ty. Tuy nhiên cần lưu ý là quyền quản lý công ty
hợp danh chỉ thuộc về các thành viên hợp danh, thành viên góp vốn không có quyền
quản lý công
ty
Trong
công ty hợp danh , Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công
ty bao gồm tất cả các thành viên hợp danh. Hội đồng thành viên có quyền quyết
định mọi hoạt động của công ty. Khi họp Hội đồng thành viên, các thành viên hợp
danh có quyền ngang nhau trong biểu quyết (mỗi thành viên chỉ có một phiếu biểu
quyết) mà không phụ thuộc vào giá trị phần vốn góp của họ trong công ty. Đây là
điểm khác biệt cơ bản giữa quyền của các thành viên trong uản lý của công ty hợp
danh với quyền của các thành viên trong quản lý công ty đối vốn (công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ
phần).
Trong
quá trình hoạt động của công ty, các thành viên hợp danh phân công nhau đảm
nhiệm các trức trách quản lý và kiểm soat công ty, và cử một người (trong số
thành viên hợp danh ) lam Giám đốc công ty. Giám đốc thực hiện nhiêm vụ điều
hành công việc trong công ty, phân công, điều hoà, phối hợp công việc của các
thành viên hợp danh và thực hiên các công việc khác theo uỷ quyền của các thành
viên hợp
danh.
Chương
II
VAI
TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN
TRONG
NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN
I.
GÓP PHẦN QUAN TRỌNG ĐỂ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
.
1. Trên
giác độ tổng
cung
Kinh
tế tư bản tư nhân cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn
nhu cầu về đời sống , nhu cầu cho quá trình tái sản xuất của xã hội . Với ưu thế
nổi trội của khu vực kinh tế tư bản tư nhân : suất đầu tư thấp , dễ chuyển đổi
phương hướng sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường , quy mô nhỏ phù
hợp với năng lực quản lý của các hộ gia đình , nên đã thu hút được đông đảo các
tầng lớp dân cư . Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân khá ổn
định .
Khu
vực kinh tế tư bản tư nhân có tốc độ phát triển và tốc độ tăng của các năm từ
1995 đến 2000 thường cao hơn tốc độ tăng chung của nền kinh tế (trừ năm
1999).Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 1995 – 2000 của cả nước 6,9%
; của khu vực kinh tế tư bản tư nhân là 7,2% . Năm 2000 , tốc độ tăng trưởng của
khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh hơn nhịp độ tăng GDPcủa toàn bộ nền
kinh tế tới 1,5%(nếu tính theo giá hiện hành ) và năm 2003 tốc độ tăng trưởng
GDP trong khu vực kinh tế ư nhân tăng so với năm 2002 là
7,24%.
Tỷ
trọng khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong toàn nền kinh tế không những không
được cải thiện mà còn suy giảm nhẹ , chủ yếu do trong những năm cuối thập kỷ 90
, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đi vào hoạt động và làm
thay đổi cơ cấu toàn bộ nền kinh tế
.
Số
lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh, và chiếm số
lượng lớn trong tổng số doanh nghiệp của cả nước thể hiên qua bảng
sau:
Số
doanh nghiệp có tại thời điểm
1/1
|
|
Năm
2001
|
Năm
2002
|
Năm
2003
|
|
-
Tổng số doanh
nghiệp
+
Doanh nghiệp nhà
nước
+
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong
đó:
- Hợp
tác xã
- Doanh
nghiệp tư
nhân
+
Công ty tư
nhân
+
Công ty cổ
phần
+
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
|
39.762
5.531
32.702
3.187
18.226
10.489
800
1.529
|
51.057
5.067
43.993
3.614
22.554
16.189
1.636
1.997
|
62.892
5.033
55.555
4.112
24.818
23.587
3.038
2.304
|
Trong
khu vực kinh tế tư bản tư nhân , tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của các
doanh nghiệp tư nhân khả dĩ hơn cả: chung khu vực kinh tế tư bản tư nhân 7,2%
(trong đó doanh nghiệp tư nhân 8,5% ; Cty TNHH ; Cty cổ phần 6,1% ; hộ cá thể
7,2%).
2.
Trên giác độ tổng cầu
.
Theo
tính toán của các nhà thống kê , để tăng trưởng 1% GDP của Việt Nam cần tăng
trưởng tiêu dùng 2,1 đến 2,2% (kể cả tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời
sống ). Khu vực kinh tế tư bản tư nhân phát triển sẽ làm tổng cầu tăng nhanh ,
thực hiện được chủ trương kích cầu của Nhà nước do mở rộng sản xuất làm cho nhu
cầu các yếu tố đầu vào gia tăng , đồng thời thu nhập của người lao động tăng do
sản xuất phát triển và số lao động được huy động vào làm tăng thêm . Đây chủ yếu
là tầng lớp có thu nhập thấp nên tỷ lệ tiêu dùng cận biên (MPC) lớn , tỷ lệ tiêt
kiêm cận biên (MPS)nhỏ hơn so với tầng lớp có thu nhập cao
.
Trong
những năm gần đây khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng rất nhanh về mặt số lượng
, nhiều doanh nghiệp được hình thành vì thế việc sản xuất hàng hoá với nhiều mặt
hàng trở nên rất đa dạng và phong phú . Việc tiêu dùng của người dân cũng như
của các doanh nghiệp tăng nhanh rõ rệt , doanh nghiệp thì cần sử dụng nhiều
nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất , người tiêu dùng do nhu cầu đời sống
ngày càng cao , kèm theo mặt hàng trở nên phong phú đa dạng cho nên mức tiêu
dùng của toàn xã hội tăng rất nhanh vì thế xét trên giác độ tổng cầu thì khu vực
kinh té tư nhân đã đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ
nghĩa.
II. TẠO VIỆC LÀM VÀ XOÁ ĐÓI GẢM
NGHÈO.
1. Tạo
việc
làm.
Từ
năm 1996 đến nay , số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân chỉ
giảm trong năm 1997 , còn lại đều tăng
.
Thời
điểm 31-12-2000 số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân là
4.643.844 người , chiếm 12%tổng số lao động xã hội ,bằng 1,3 lần tổng số việc
làm trong khu vực kinh tế nhà nước .Lao động của hộ kinh doanh cá thể là
3.802.057 người , của các doanh nghiệp tư nhân là 841.787 người
.
Sự
gia tăng của các doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số lượng lao động
phù hợp với trình độ kỹ thuật của lao động , việc sử dụng lao động tại chỗ của
khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã giảm bớt khâu giải quyết nơi ăn ở , các điều
kiện cơ sở hạ tầng khác như phương tiện giao thông , trường học trạm xá…. , tình
trạng thất nghiệp dã giảm dần
.
Trong
5 năm 1996-2000 lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng thêm 778.681
người (tăng 20,4%). Trong đó số lao động trong các doang nghiệp tư nhân tăng
thêm 487.459 người (tăng 237,57%); số lao động ở hộ kinh doanh cá thể tăng thêm
292.222 người (tăng 8,29%). Số lao động qua thực tế khảo sát ở hộ kinh doanh cá
thể lớn hơn nhiều so với số đăng ký vì nhiều hộ gia đình chủ yếu sử dụng số lao
động trong dòng họ , lao động mang tính thời vụ và lao động nông nhàn không thể
hiện trong báo cáo thống kê. Tình hình thu hút lao động trong những năm qua thể
hiện rất rõ rệt qua bảng
:
Tình
hình thu hút lao động trongkhu vực kinh tế tư bản tư nhân trong những năm qua.
(tính đến thời điểm 31-12 hàng
năm)
|
|
1996
|
1997
|
1998
|
1999
|
2000
|
|
Lao
động
(người)
|
3.865.163
|
3.666.942
|
3.816.942
|
4.097.455
|
4.643.844
|
|
Tốc
độ phát triển liên
hoàn(%)
|
100
|
94,87
|
104,09
|
107,35
|
113,33
|
|
Tốc
độ tăng liên
hoàn(%)
|
|
-5,13
|
4,09
|
7,35
|
13,33
|
|
%
trong tổng lao động xã
hội
|
11,2
|
10,3
|
10,3
|
10,9
|
12,0
|
Công nghệ kỹ thuật sản xuất ngày càng được cải thiên và nâng cao , dây truyền
sản xuât ngày càng hiện đại , đòi hỏi ở công nhân một trình độ tay nghề phù hợp
với điều kiện làm việc, chính vì thế quá trình đào tạo tay nghề được đưa lên vị
trí hàng đầu .Hiện nay ,trình độ tay nghề của công nhân được nâng cao rõ rệt ,
bên cạnh đó việc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển đào tạo nghề
được hình thành ,như việc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển đào tạo
nghề đến năm 2005và 2010.Trong đó cần chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật lành
nghề và công nhân trình độ cao cho khu vực KTTN. Mặt khác điều kiện để đào tạo
tay nghề cho người lao động thuận lợi hơn so với cáckhu vực kinh tế khác, hầu
hết được đào tạo tại chỗ, thông qua kèm cặp của người nhà đã có tay nghề. Chi
phí cho đào tạo không đáng kể, đồng thời qua truyền nghề như vậy sẽ duy trì được
những làng nghề truyền thống, góp phần cùng xã hội dạy nghề mà chi phí chung của
xã hội (kể cả chi phí của tư nhân và nhà nước ) không đáng kể
.
Việc
tạo ra hiều chỗ làm việc mới đã góp phần thu hút nhiều lao động trong xã hội,
nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải
quyết số dôi dư từ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế và giải
thể.
2. Xoá
đói giảm
nghèo.
Khu
vực kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần đáng kể vào việc xoá đói giảm nghèo, cải
thiện đời sống nhân dân ở khu vực thành thị và nông thôn . Theo thực tế khảo
sát, thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân thường có
mức tương hoặc cao hơn thu nhập của lao động trồng lúa ở nông thôn cùng địa
bàn.
Phát triển khu vực kinh tế tư bản tư nhân góp phần rất quan trọng để tạo ra việc
làm tại chỗ cho gia đình và địa phương , đem lại thu nhập cho người lao động.
Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2000 của Tổng cục Thống Kê , mức thu nhập
trung bình 1tháng/ 1 lao động (1000 đ)của các doanh nghiệp nói chung là: 1041,1;
DNNN là 1048,2; DNtư nhân là 651,1; Cty cổ phần là 993,0; Tập thể là 529,3;
CtyTNHHlà 801,8; DN có vốn dầu tư nước ngoài là 1754,5.Mức thu nhập của khu vực
kinh tế tư bản tư nhân tuy thấp hơn các DNNN nhưng cao hơn khu vực kinh tế tập
thể . Thu nhập trung bình của 1 lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân
cao gấp 2đến 3 lần so với mức lương cơ bản của Nhà nước quy định
.
II.
ĐÓNG GÓP VÀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN TRONG XÃ HỘI NỘP NGÂN SÁH NHÀ NƯỚC
.
1.
Huy động các nguồn vốn trong xã hội sử dụng vào sản xuất kinh doanh
.
Trong 10 năm gần đây, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao
trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 1999 tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế tư
bản tư nhân đạt 31.542 tỷ đồng chiếm 24,05%; năm 2000 đạt 35.894 tỷ đồng, tăng
13,8% so với năm 1999, chiếm 24,31% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội.
Năm 2000 vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể đạt 29.267 tỷ đồng, chiếm 19,82%
tổng vốn đầu tư toàn xã hội; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tư nhân đạt
6.627 tỷ đồng, chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội.
Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh. Đối với
các doanh nghiệp tư nhân năm 1999 là 79.493 tỷ đồng, năm 2000là 110.071 tỷ đồng,
tăng 38,5%. Các địa phương tăng mạnh vốn sử dụng thực tế của doanh nghiệp là Hà
Nội từ 10.164 tỷ đồng (năm1999) tăng lên 16.573 tỷ đồng (năm2000), tăng 63,05%;
tương ứng ở thành phố Hồ Chí Minh từ 36.954 tỷ đồng tăng lên 52.353 tỷ đồng,
tăng
41,67%…
Trong hai năm 2001-2002, sau khi có luật doanh nghiệp ra đời, số doanh nghiệp tư
nhân ra đời 35.440,với số vốn đăng ký đạt 40.455 tỷ đồng, nhiều hơn số doanh
nghiệp tư nhân được thành lập trong 5 năm trước cộng lại
.
Năm 2003 , khu vực kinh tế tư bản tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ. Khu vực
kinh tế tư bản tư nhân chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư phát triển, hầu hết giá trị
nông nghiệp, chiếm 25,5% giá trị công nghiệp, phần lớn giá trị dịch vụ, 48% kim
ngạch xuất
khẩu.
2.
Đóng góp phần lớn vào ngân sách nhà
nước.
Với
sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp rất lớn
vào sự phát triển của đát nước, với số vốn huy động lớn trong toàn xã hội, khu
vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà
nước
Năm 2000 nộp được 5.900 tỷ đồng, ước tính chiếm 7,3%tổng thu ngân sách tăng
12,5% so vơ2í năm 1999. Đến năm 2001, khu vực doanh nghiệp tư
nhân
Nộp
ngân sách nhà nước đạt trên 11.075 tỷ đồng, chiếm 14,8%tổng thu ngân
sách.
Qua số liệu cho chúng ta thấy khu vực kinh tế tư bản tư nhân có vai trò rất lớn
trong nguồn thu ngân sách của nhà nước .Trong năm 2001 chiếm 14,8% trong tổng
ngân sách nhà nước với tốc độ phát triển nhanh chong thì chỉ trong một vài năm
gần đây khu vực kinh tế này sẽ thể hiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền
kinh tế và là chỗ dựa vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
IV. THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ XÃ HỘI, CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ.
1. Quá
trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh
tế.
Sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân đã đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã xuất hiện
nhiều doanh nhân kinh doanh thành đạt, đưa doanh nghiệp của mình phát triển, cải
thiện được đời sống người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, được xã
hội tôn
vinh.
Trình độ sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư bản tư nhân ngày càng tiến
bộ hơn, số lượng hàng hoá tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Nhiều sản phẩm của
khu vực kinh tế tư bản tư nhân được xuất khẩu uỷ thác qua doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân còn
tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu. Xuất khẩu trực
tiếp của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đến nay đã tăng khá, 9 tháng đầu năm
2001 đạt 2.189.330.000 USD, trong đó các công ty cổ phần đạt 1.606.489.900 USD,
công ty trách nhiệm hữu hạn đạt 211.900.000 USD (số liệu của Tổng cục hải
quan).
Các doanh nghiệp tư nhân đã tham gia tích cực vào xuất nhập khẩu trực tiếp, đến
năm 2000 số doanh nghiệp tư nhân tham gia xuất khẩu trực tiếp tăng lên 16.200
doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã xuất khẩu được những sản phẩm từ
hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến (như cá khô đi Nhật Bản, cá kho tộ đi
Mỹ…), đến cả rơm sạch là những mặt hàng mà các doanh nghiệp nhà nước chưa quan
tâm đến. Vì thế khu vực ngoài quốc doanh trong nước từ chỗ chỉ chiếm 11% giá trị
xuâts khẩu vào năm 1997 nhưng đến quýI-2002 đã tăng lên khoảng 31% (không tính
giá trị xuất khẩu dầu thô). Gýa trị xuất khẩu từ mức khoảng 5% đã tăng lên 24%
trong các thời điểm tương ứng (thời báo Kinh tế Việt Nam số
66 ngày
3-6-2002).
Các doanh nghiệp , công ty đăng ký sản xuất kinh doanh theo pháp luật và được tự
do sản xuất kinh doanh tự do chọn mặt hàng sản xuất hay kinh doanh. Thị trường
Việt Nam với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tư bản tư nhân đã tạo ra môi
trường hợp tác trên cơ sở 2 bên cùng có lợi và cạnh tranh dưới sự quản lý của
nhà nước tạo điều kiện phat triển nhanh chóng kinh tế Việt Nam , hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
2. Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân góp phần thu hút được nhiều lao
động ở nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp
chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đât nước.
Khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng về số lượng và khẳng định vị trí của mình
trong nền kinh tế . Nếu như trước đây , kinh tế tư bản tư nhân không được thừa
nhận, bị coi là đối tượng của cách mạng XHCN, phải đựơc cải tạo xoá bỏ, với tư
tưởng như thế trong giai đoạn đó kinh tế tư bản tư nhân vẫn chua được phát triển
mà hầu như còn bị vùi dập , kinh tế đất nước với sự hiện diện toàn bộ bởi kinh
tế tập thể với cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Từ đường lối đổi
mới (Đại hội 6 của Đảng tháng 12.1986) khẳng định xây dựng phát triển nền kinh
tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại
lâu dài thì kinh tế tư bản tư nhân đựơc phát triển rất mạnh mẽ, tạo cho cơ cấu
kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng giữa kinh tế tư bản tư nhân với kinh
tế tập thể
.
Cơ
cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa
kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tập thể , mà còn thể hiện rất rõ trong sự phát
triển của các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành. Các doanh nghiệp đăng ký hoạt
động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại chiếm 42% tổng số doanh
nghiệp, công nghiệp và xây dựng 31%, dịch vụ khác 22%, nông nghiệp chỉ chiếm
5%.
Trình
độ sản xuất của khu vực kinh tê tư nhân ngày càng tiến bộ , với máy móc trang
thiết bị ngày càng hiện đại vì thế sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều, mẫu mã
phong phú và chất lượng dần được cải thiện.Tham gia tích cực vào xuất khẩu trực
tiếp.
CHƯƠNG
III
THỰC
TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN HIỆN
NAY
I.
KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TĂNG VỀ MẶT SỐ
LƯỢNG.
1. Thời
kỳ trước năm
1986.
Đất
nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất được
thực hiện trên phạm vi cả nước. Kế hoạch 5 năm 1976-1980 ngoài nhiệm vụ khắc
phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo kinh tế miền Nam theo mô hình kinh
tế miền Bắc. Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản xuất nhỏ
ở miền Bắc, đồng thời triển khai mạnh mẽ ở miền
Nam.
Nhưng kinh tế tư bản tư nhân vẫn tồn tại, trong công nghiệp vẫn có trên dưới 60
vạn người sản xuất cá thể năm 1980:50,3vạn; năm 1981: 55,1 vạn; năm 1983:66,6
vạn; năm 1984:64 vạn; năm 1985:59,3
vạn.
Số lượng lao động hoạt động trong kinh tế tư bản tư nhân vẫn chiếm trên 20%tổng
số lao động ngành công nghiệp; năm1980: 22,3%;năm1984: 26%; năm 1985:23%;năm
1986:
23,2%.
Giá trị sản lượng công nghiệp do khu vực kinh tế tư bản tư nhân tạo ra hàng năm
chiếm trên dưới 15% giá trị sản lượng toàn ngành công
nghiệp.
Những người kinh doanh thương nghiệp những năm 1980cũng ở mức 60 vạn. Năm
1980:63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8
vạn.
Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự hiện diện
của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dà như một tất yếu khách quan,
cần phải biết sử dụng mặt tích cực của nó làm cho dân giàu, nước
mạnh.
2. Thời
kỳ sau năm 1986.
Từ đường lối đổi mới (đại hội VI của Đảng 12-1986) khẳng định xây dựng, phát
triển nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế tồn tại lâu dài. Nghị quyết trung ương khoá VI ghi rõ:”Chính sachs kinh
tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tinh quy luật từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớnXHXN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế”, “Tư nhân
được kinh doanh không hạn chế về quy mô địa bàn hoạt động trong những ngành nghề
mà pháp luật không
cấm”.
Nhờ có chính sách đổi mới kinh tế tư bản tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện
phát triển, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của đất
nước.
Trong công nghiệp tư nhân đã đầu tư thêm vốn để mở rộng các cơ sở hiện có, hoặc
xây dựng thêm các cơ sở mới. Năm 1988 khu vực này đầu tư thêm 80 tỷ đồng, thành
lập thêm 17.000 cơ sở, trong đó cá 46 xí nghiệp tư nhân; 1.100 cơ sở tiểu thủ
công nghiệp và hơn 15.000 hộ cá thể. Năm 1989 số vốn đầu tư tăng thêm 102 tỷ
đồng, số xí nghiệp tư nhân tăng gấp 4 lần so với năm 1988(từ 318 xí nghiệp tăng
lên 1.284 xí nghiệp); hộ tiểu thủ công nghiệp và cá thể từ 31,85 vạn lên 33,33
vạn, tăng 4,6%. Trong hai năm 1990-1991 số vốn tăng thêm mỗi năm khoảng 100 tỷ
đồng. Năm 1989 thành phần kinh tế tư bản tư nhân thu hút thêm 39,5 nghìn lao
dộng .
Năm 1990 đã ban hành Luật công ty và luật doanh nghiệp, đã tạo động lực cho khu
vực kinh tế tư bản tư nhân tiếp tục phát triển. Năm 1991 so với năm 1990 tăng
thêm 4.000 cơ sở và lao động tăng thêm 10 nghìn người. Tỷ trọng giá trị sản
lượng công nghiệp khu vực tư nhân, cá thể chiếm trong giá trị tổng sản lượng
toàn ngành công nghiệp tăng khá nhanh năm 1986 là:15,6% thì đến năm 1990
là:26,5%.
Trong giao thông vận tải, năm 1990 có 97.194 hộ tư nhân cá thể làm dịch vụ vận
tải. Tổng số lao động vận tải 138,5 nghìn người. Năm 1990 thực hiện vận chuyển
16,6 triệu tấn hàng hoá chiếm 36,3%khối lượng vận chuyển hàng hoá của tất cả các
thành phần kinh tế và 165,3 triệu lượt hành khách, chiếm 28,6% khối lượng vận
chuyển hành khách toàn
ngành.
Trong thương nghiệp, lao động của thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển
nhanh chóng: năm 1986: 64 vạn người; thì đến năm 1990 đã tăng lên 81,1 vạn
người. Ngoài ra còn có lực lượng thương nghiệp không chuyên tham gia hoạt động,
năm 1990 có khoảng 16 vạn
người.
Tỷ trọng doanh số bán hàng hoá và dịch vụ của tư nhân trong tổng mức bán lẻ hàng
hoá dịch vụ tiêu dùng xã hội ngày càng lớn : năm 1986:45,6%thì đến năm
1990:66,9%; và năm 1991
đạt:73,1%.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân vẫn tiếp tục trong những năm
1991-1996, nhưng trong 2 năm 1997- 1998 tốc độ phát triển của kinh tế tư bản tư
nhân chậm lại do khủng hoảng tài chính khu vực , số hộ kinh doanh cá thể năm
1997 giảm, số doanh nghiệp năm 1998
giảm.
Năm 1999 Luật doanh nghiệp được quốc hội thông qua và năm 2000 ban hành Luật
doanh nghiệp (thay cho Luật Công ty và Luật doanh nghiệăyt nhân trước đây). Đạo
luật này đi vào cuộc sống rất nhanh, tạo ra bước phát triển đột biến của kinh tế
tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân từ năm 2000 đến nay. Theo tổng cục
thống kê, đến cuối năm 2000 cả nước có khoảng 59.473 doanh nghiệp tư nhân với số
vốn 52.000 tỷ đồng, sử dụng 600.000 lao động và đóng góp 7,6%GDP. Sự tăng trưởng
mạnh mẽ này chủ yếu là do môi trường kinh doanh của kinh tế tư bản tư nhân đã
được cải thiện một cách cơ bản, Luật Doanh nghiệp và các nghị định số 57 và 44
có vai trò quan trọng nhất, tạo ra những bước ngoặt phả triển. Số doanh nghiệp
thành lập trong vòng một năm sau khi có luật doanh nghiệp năm 2000 tương đương
với số lượng doanh nghiệp của 5năm trước
đây.
II. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN THEO NGÀNH NGHỀ TỔ CHỨC KINH
DOANH.
1. Trong
lĩnh vực nông
nghiệp.
Cùng với sự đổi mới trong kinh tế hợp tác, các Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu
tư trong nước, Luật Thương mại thông qua vào đầu những năm 90 đã tác động rất
mạnh vào khu vực nông nghiệp, tới hàng triệu nông dân Việt Nam. Kinh tế hộ gia
đình nông dân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tính
chất công nghiệp ở nông thôn (ngành nghề truyền thống, các doanh nghiệp xây
dựng, dịch vụ…) phát triển rất mạnh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của nhièu
vùng nông thôn. Nếu như năm 1990, số kượng các hộ cá thể có khoảng trên 9,4
triệu hộ thì đến năm 1995 đã lên tới 11.974.595 hộ hoạt động trên gần 9.000 xã
trong khắp 7 vùng sinh thái. Trong đó, số hộ nông nghiệp là 9.528.896 hộ ( chiếm
79,58%); hộ lâm nghiệp 18.156 hộ (0,15%); hộ thuỷ sản:229.909 hộ (1,92%); hộ
công nghiệp:160.370 hộ (1,34%); hộ xây dựng: 31.914 hộ (0,27%); hộ thương
nghiệp: 384.272 hộ (3,21%); hộ dịch vụ:14.156 hộ (1,18%); hộ khác:1.479.341 hộ
(12,35%). Trong số các hộ đó, nhóm hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
nhất(79,58%), nếu hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng- bao gồm cả nông lâm ngư
nghiệp thì hịô nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn hơn nữa:81,65%, nếu xet theo
cơ cấu hình thành phần thì số hộ xã viên là 7.078.179 hộ (59,11%); hộ cá thể là
3.333.788 hộ (27,84%); hộ nông dân chuyên làm thuê lầ 672.319 hộ (5,61%). Cần
lưu ý là hộ xã viên nói ở đây đã là hộ kinh tế tự chủ, họ có quyền sử dụng ruộng
đất mà Nhà nước giao cho họ lâu dài 9với 5 quyền theo Luật Đất đai), họ tự chịu
trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong trồng trọt và chăn nuôi do họ tổ chức, HTX
chỉ hỗ trợ một số khâu dịch vụ, do đó, trên thực tế là hộ cá
thể.
Như vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp số hộ tư nhân, cá thể chiếm tỷ trọng lớn
81,65%. Đây thực sự là lực lượng kinh tế mạnh thể hiện trên các mặt sau
đây:
-Chỉ trong thời gian ngắn, các hộ nông dân đã mua sắm rất nhiều trang thiết bị
hiện đại, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp lên một bước: các
hộ nông dân sắm thêm được 109.483 máy phát điện, 9.088 động cơ điện, 36.011 động
cơ chạy xăng, 97.808 máy tuốt lúa, 28.643 máy kéo lớn , 75.286 máy kéo nhỏ,
537.809 máy bơm, 106.305 máy xay, 15.157 máy nghiền thức ăn gia súc, 11.392 máy
cưa. Nếu kể thêm những đóng góp của nông dân vào xây dựng đường điện, đường,
trường trạm thì rất
lớn.
- Cũng chỉ trong thời gian không lâu, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn thì nông dân nước ta đã bỏ vốn lập trên 110.000 trang trại,
trong đó riêng các tỉnh phía bắc 67.000 trang trị. Trang trại là những tổ chức
kinh tế nằm trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân nhằm đưa sản xuất nông nghiệp
lên trình dộ sản xuất hàng hoá; chủ trang trại bỏ vốn ra kinh doanh ( số vốn này
khá lớn, theo điều tr của Trường đại học Kinh tế quốc dân ở thời điểm tháng
4-1999 thì vốn bình quân của một trang trị là 291,43 triệu đồng- Đắc Lắc cao
nhất 619,5 triệu đồng, Yên Bái thấp nhất là 95.9 triệu đồng, chủ yếu là vốn tự
do có của chủ trang trại 91,03%). Các trang trị đã tạo ra một lượng hàng hoá
lớn; trung bình một trang trại cung cấp một lượng giá trị hàng hoá là 91,449
triệu đồng, trong đó tỷ trọng hàng hoá là 86,74%. Số hàng hoá này chủ yếu là
nông sản, hải sản, một số nhỏ là sản phẩm chăn nuôi. Kinh tế trang trại đã góp
phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam lên kinh tế hàng hoá, giải quyết
nhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
.
Có thể nói, khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong nông nghiệp thời gian qua đã
góp phần xứng đáng vào thành tích của ngành nông nghiệp nói chung: tạo ra ẳ tổng
sản lượng của Việt Nam, và 30% kim ngạch hàng xuất khẩu9 bao gồm cả thuỷ
sản).
2. Trong
lĩnh vực công nghiệp
.
Với
cơ chế mới, khu vực kinh tế tư bản tư nhân cũng thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực
công nghiệp. Toàn bộ khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong công nghiệp (bao gồm
các doanh nghiệp hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã đua phần đóng góp vào sản lượng công nghiệp
cả nước từ 375 năm 1990 lên 58% năm 2000, trong đó đóng góp quan trọng nhất là
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí và lĩnh vực
công nghiệp chế tạo (khu vực tư nhân trong nước năm 2000 chiếm 22,7%, khu vực
đầu tư nước ngoài chiếm 35,25). Khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong nước mà đặc
biệt là các doanh nghiệp hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực
công nghiệp chế tạo. Năm 1999 có 600.000 doanh nghiệp hộ gia đình nhỏ hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, chiếm ẳ số doanh nghiệp rất nhỏ, đóng góp
285 giá trị gia tăng trong công nghiệp chế tạo. Ngoài ra còn 5600 doanh nghiệp
vừa và nhỏ cũng hoạt động trong ngành công nghiệp chế tạo và tạo ra 10% GDP của
ngành công nghiệp này. Vai trò của khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong công
nghiệp sẽ còn tăng hơn nữa vì những đổi mới trong thể chế rất mạnh với những bộ
luật mới ra đời từ năm 1998 đến nay, nhất là Luật Doanh nghiệp mới được phê
chuẩn năm 1999 và có hiệu lực thực hiện từ năm 2000, kèm theo việc bãi bỏ hơn
100 loại giấy phép kinh doanh gây phiền hà, cản trở; Luật Đầu tư nước ngoài cũng
được sửa đổi với những thuận lợi mới cho các nhà đầu tư
…
Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, sự phát triển của khu vực kinh té
tư nhân trong hoạt động công nghiệp (bao gồm cả tiểu, thủ công nghiệp) cũng
phát triển rất mạnh và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế nói chung, kinh tế
nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê và của một
số cơ quan chức năng, trong những năm gần đây, trong nông thôn cả nước có khoảng
từ 18% đến 20% số hộ nông dân tham gia hoạt động phi nông nghiệp, trong đó một
nửa là hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
thuộc kinh tế tư bản tư nhân, cá thể và hộ gia đình (mà về cơ bản chúng ta có
thể xếp vào khu vực kinh tế tư bản tư nhân0. Theo báo cáo của hội nghị nhóm tư
vấn các nhf tài trợ ch Việt Nam (năm1998) thì khu vực tư nhân trong nông thôn cả
nước hiện có khoảng 24.000 doanh nghiệp và tổ hợp sản xuất kinh doanh, trong đó
có 33% là các doanh nghiệp, tổ hợp tư nhân trong lĩnh vực công nghiệp và tiêu
thủ công
nghiệp.
3. Trong
lĩnh vực thương mại và dịch vụ
.
Đây là lĩnh vực kinh tế tư bản tư nhân hoạt động sôi nổi, ngày càng lấn át khu
vực quốc doanh. Số lượng tăng lên nhanh chóng: năm 1986 có56,8 vạn hộ, năm 1987
đã là 64 vạn hộ , năm 1988 là 71,9 vạn hộ, năm 1989 là 81,1 vạn hộ và 16 vạn hộ
kinh doanh không chuyên nghiệp, năm 1995 là 94 vạn hộ. Tư thương và hộ cá thể
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ :
năm 1987, khu vực này đảm nhận tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã
hội là 59%, năm 1988 là 59.6%, năm 1989là 66,9%, năm 1990 là 69,6%, năm
1991là74,9%.
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ , còn phải kể đến vai trò của khu vực kinh tế
tư bản tư nhân trong xuất nhập khẩu. Tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp tư nhân
trong nước trong giá trị xuất khẩu không kể dầu lửa đã tăng từ 125 trong năm
1997 lên 22% vào giữa năm 2000 và tỷ trọng trong giá trị nhập khẩu đã tăng từ 4%
lên tới 16%. Nếu tính cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì khu vực doanh nghiệp
tư nhân đã đóng góp trong xuất khẩu là 35% năm 1997 và 54%giữa năm
2000.
4. Trong
xấy dựng kết cấu hạ
tầng.
Với
chiến lược phat triển khinh tế – xã hội 10 năm, Chnhs phủ đã đề ra chương trình
với rất nhiều kì vọng về xây dựng kết cấu hạ tầng, bao gồm những chương trình
lớn về phát triển đường sắt, đường bộ với hệ thống cầu qua sông, đường hàng
không véi hệ thống các sân bay quốc tế và nội địa. Kết cấu hạ tầng có vị trí
quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã
hội nhưng để có hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển như kế hoạch của Chính phủ
thì cần có nguồn vốn rất lớn mà nếu chỉ Nhà nước thì không đủ sức thực hiện.
Những chỉ số sau đây cho thấy rõ điều này: số vốn đầu tư cho ngành năng lượng
hàng năm xấp xỉ 2-2,5 tỷ USD, trong đó ngành điệ dự kiến cần số vốn đầu tư trung
bình hàng năm là 1,5-2 tỷ USD mà 52-58%dành cho sản xuất điện và 42-48% dành cho
truyền tải và phân phối điện. Vì kết cấu hạ tầng ngành năng lượng của Việt Nam
còn lạc hậu nên phải dành 5,3-5,5% GDP đầu tư cho lĩnh vực này, gấp hơn 2 lần
các nước Đông á. Với ngành giao thông vận tải, nhu cầu đầu tư cũng rất lớn. Theo
nghiên cứu chiến lược giao thông vận tải quốc gia Việt Nam thì số vốn cần thiết
để đầu tư là 11,6 tỷ USD tương đương khoảng 2,5%GDP tích luỹ. Nếu tính cả chỉ
tiêu bảo dưỡng mà Nhà nước bỏ ra thì tổng số vốn cần thiết là 14,2 tỷUSD, tương
đương 2,8% GDP tích luỹ trong thời gian 10 năm 2001-2010. Chỉ với 2 ngành nêu
trên, số vốn hàng năm cần thiết cho đầu tư đã là 3,4-3,5 tỷ USD, đó là chưa kể
những ngành kết cấu hạ tầng khác ( như viễn thông , nước sạch và vệ sinh …).
Trong thập kỷ tới, nhu cầu vốn sẽ rất lớn, ước tính khoảng 6-7%GDP, tương đương
với toàn bộ chương trình đầu tư công trước đây. Vì thế việc thu hút sự tham gia
của khu vực kinh tế tư bản tư nhân là hết sức quan
trọng.
Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, phải kể đến hệ thống đường nông thôn mà những
năm qua khu vực kinh tế hộ nông dân- thực chất là khu vực kinh tế tư bản tư nhân
đã đóng vai trò rất
lớn.
III.
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN THEO VÙNG, LÃNH
THỔ.
Kinh tế tư bản tư nhân phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi, giữa thành
thị và nông thôn. Năm 1995, con số thống kê cho thấy : 55% doanh nghiệp tư nhân
ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ; 18,1% ở đồng bằng sông Hồng và
10,1% ở vùng Duyên hải miền Trung. Trong đó các tỉnh phía Nam thì chỉ riêng
thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai đã chiếm 63%. Năm 1996
trong tổng số 1.439.683 cơ sở KTTN(bao gồm 1.412.166 cơ sở của cá nhân và nhóm
kinh doanh, 17.535 DNTN và 6.883 CTTNHH) thì 24% tập trung ở đồng bằng sông Cửu
Long; 21% ở vùng đồng bằng sông Hồng; 19% ở vùng Đông Nam Bộ; 13%ở vùng kh Bốn
cũ; 10% ở vùng Duyên hải miền T rung; 9% ở vùng núi và trung du Bắc bộ và 4% ở
vùng Tây Nguyên. Năm 1997 trong tổng số 25.002 cơ sở KTTN( phần lớn là DNTN) thì
18.728 cơ sở tập trung ở miền Nam, chiếm 75% trong khi ở miền Bắc chỉ có
4.178DN, chiếm 17% và miền Trung có 2087 cơ sở, chiếm 8,3%. Riêng thnhf phố Hồ
Chí Minh có số lượng 6304 DN, chiếm 25%, băng toàn bộ số DN của miền Bắc và miền
Trung cộng lại. Năm 1998 các con số tương ứng là: miền Nam chiếm 73%, gấp 3 lần
số lượng ở miền Bắc và miền Trung cộng lại 27%, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa
bàn lớn nhất 25%, Hà Nội và miền Trung có số lượng tương đương nhau khoảng
8%.
Qua số lệu trên chúng ta thấy kinh tế tư bản tư nhân phân bổ không đều giữa cá
vùng lãnh thổ. Phát triển mạnh và tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long 40%, ở đồng bằng sông Hồng là 33% và ở Đông Nam Bộ là 25%. Các công ty cổ
phần phát triển mạnh ở Đông Nam Bộ 54% đồng bằng sông
Hồng23%.
IV.
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ VỐN, LAO ĐỘNG TRONG SẢN XUẤT KINH
DOANH.
1. Kinh tế tư bản tư
nhân.
-
Về vốn sản xuất: Vốn
của doanh nghiệp tăng nhanh cả về vốn đăng ký kinh doanh , tổng vốn thực tế sử
dụng và vốn đầu tư phát
triển.
Tổng vốn đăng ký của các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần từ năm 1991 đến hết tháng 9 năm 2001 đạt 50.795,142 tỷ
đồng; năm 2000 tăng 87,5 lần so với năm 1991. Trong đó doanh nghiệp tư nhân đăng
ký 11.470,175 tỷ đồng chiếm 22,85%; công ty trách nhiêm hữu hạn đăng ký
29.064,160 tỷ đồng chiếm 57,22%; công ty cổ phần đăng ký 10.260,770 tỷ đồng,
chiếm
20,20%
Tổng vốn đăng ký kinh doanh liên tục tăng cùng với số doanh nghiệp đăng ký tăng.
Số vốn đăng ký tăng từ 13.000 tỷ đồng năm 2000 lên 26.500 tỷ đồng năm 2001; 4
tháng đầu năm 2002 vốn đăng ký kinh doanh tăng thêm 8.767 tỷ
đồng.
Tính từ khi có Luật doanh nghiệp đến hết tháng 4-2002 cả nước có trên 41.000
doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn đăng ký tương đương 3,6 tỷ
USD.
Bình quân vốn đăng ký của một doanh nghiệp mới cũng không ngừng tăng lên, từ 900
triệu đồng năm 2000 lên 1.300 triệu đồng năm 2001 và 1.500 triệu đồng vào năm
2002. Nếu tính cả số vốn điều chỉnh bổ sung của các doanh nghiệp thì tổng số vốn
đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước trong hơn 2 năm 2001-2002 đạt
khoảng 60.000 tỷ đồng, tương đương 4 tỷ
USD.
Tổng vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp cũng tăng nhanh. Năm 2000 là 110.071
tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999; trong đó của công ty trách nhiệm hữu hạn
tăng 40%, doanh nghiệp tư nhân tăng 37,64%, công ty cổ phần tăng 36,7%. Năm 2000
khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đầu tư mua 20,3% cổ phần của doanh nghiệp nhà
nước đã cổ phần
hoá.
Tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tư nhân tăng cả về lượng vốn và tỷ
trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân và của
toàn xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tăng từ 17,84% năm 1999
lên 18,46% năm 2000; tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ 4,29% năm
1999 lên 4,49% năm
2000.
Năm 2000, tổng vốn sử dụng của doanh nghiệp tư nhân phi nông nghiệp là 173.862
tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999. Vốn đầu tư phát triển của khu vực này năm
2000 là 17.981,6 tỷ, tăng 16,53% so với năm 1999. Trong ngành nông nghiệp năm
2000 vốn đăng ký kinh doanh tư nhân đạt 1.036 tỷ đồng; vốn đầu tư phát triển của
hộ gia đình đạt 17.633 tỷ đồng tăng 11% so với năm
1999.
-Lực lượng lao động của khu vực kinh tế tư bản tư nhân: Tính
từ năm 1996 –2000 số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân phi
nông nghiệp trong các năm đều tăng trừ năm 1997. So với tổng số lao động toàn xã
hội thì khu vực này chiếm tỷ lệ khoảng 11% qua các năm, riêng năm 2000 là 12%.
Năm 2000, lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kể cả khu vực nông
nghiệp là 21.017.326 người, chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xduyên trong
cả nước.
Trong các ngành phi nông nghiệp, số lao động khu vực kinh tế tư bản tư nhân năm
2000 là 4.643.844 lao động, tăng 20,12% so với năm 1996; bình quân mỗi năm tăng
194.670 lao động, tăng 4,75%/năm. Trong 4 năm từ 1997 đến năm 2000 riêng khu vực
này thu hút thêm 997.019 lao động, gấp 6,6 lần so với khu vực kinh tế nhà
nước.
Năm 2000, lao động khu vực kinh tế tư bản tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp có 16.373.482 người, chiếm 63,9% tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc.
Trong đó các trang trại thu hút 363.048 lao động, chiếm 2,22%; các doanh nghiệp
nông nghiệp thu hút 53.097 lao động chiếm
0,33%.
Năm 2000, trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân các ngành phi nông nghiệp, lao
động trong công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất. Lao động trong công nghiệp có
2.121.228 người, chiếm 45,67%; lao động trong ngành thương mại, dịch vụ
1.735.824 người, chiếm tỷ trọng 37,37%; lao động các ngành khác 786.729 người,
chiếm 16,94%. Tính từ năm 1996-2000, lao động trong công nghiệp tăng nhiều hơn
ngành thương mại, dịch vụ. Năm 2000 so với năm 1996 lao động trong công nghiệp
thêm được 336.442 người, tăng 20,68%; trong khi lao động thương mại, dịch vụ
thêm được 271.476 người. Lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh
hơn ở hộ kinh doanh cá thể; năm 2000 so với năm 1996, lao động công nghiệp ở
doanh nghiệp tăng 114,02%; lao động công nghiệp ở hộ kinh doanh cá thể chỉ tăng
được 6,4%.
2.
Kinh tế cá thể tiểu
chủ.
Hộ
kinh doanh cá thể có số lượng lớn, phát triển rộng rãi từ nhiều năm nay. Số hộ
kinh doanh cá thể phi nông nghiệp từ 1.498.611 hộ năm 1992 tăng lên 2.016.259 hộ
năm 1996. Tốc độ tăng bình quân 7,68%/năm mỗi năm tăng bình quân 129.412
hộ.
Từ năm 1996 đến năm 2000 số lượng hộ kinh doanh cá thể tăng chậm, đến năm 2000
mới có 2.137.731 hộ, bình quân tăng 1,47%/năm, mỗi năm tăng 30.300 hộ cá thể phi
nông nghiệp. Hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã năm 2000 có 7.656.165 hộ. Tổng cộng
năm 2000 có 9.793.787 hộ kinh doanh cá
thể.
Trong cơ cấu ngành nghề đến thời điểm ngày 31-12-2000, hộ cá thể kinh doanh
thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng 51,9%(1.109.293 hộ); sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng 30,2%(645.801 hộ), giao thông vận tải chiếm
11,63%; xây dựng 0,81%; các hoạt động khác chiếm
5,46%.
Hộ kinh doanh cá thể phân bố không đều giữa các địa phương. Đến thời điểm
31-12-2000, năm địa phương có số hộ nhiều nhất là thành phố Hà Nội :92.302 hộ,
Hà Tây:97.180 hộ, Thanh Hoá: 96.777 hộ,thành phố Hồ Chí Minh:184.463 hộ, Đồng
Tháp:95.049 hộ. Tổng cộng là 565.771 hộ chiếm 26% cả nước. Năm địa phương có số
hộ ít nhất là Bắc Cạn:4.454 hộ, Hà Giang:7.575 hộ, Lai Châu: 8.201 hộ, Lào
Cai:9.029 hộ, Sơn La:9,325 hộ. Tổng cộng là 38.584 hộ chỉ chiếm 1,8% cả
nước.
Quy mô của hộ kinh doanh cá thể nói chung rất nhỏ, sử dụng lao động trong gia
đình là chính, trung bình mỗi hộ có 1-2 lao động. Vốn kinh doanh ít. Ngoại lệ,
qua khảo sát thực tế ở các thành phố lớn, có nhiều hộ kinh doanh cá thể thuê đến
hàng chục thậm chí đến hàng trăm lao
động.
Vốn của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 là 29.267 tỷ đồng tăng 12,93% so với năm
1999. Vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 chiếm 81,54% trong tổng số
vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư bản tư nhân và chiếm 19,82% vốn đầu tư toàn xã
hội.
Tổng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể là 63.668 tỷ
đồng, chiếm 36,61% trong tổng số vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của khu vực
kinh tế tư bản tư
nhân.
CHƯƠNG
IV
ĐÁNH GIÁ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ
NHÂN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN
I. THÀNH
TỰU ĐẠT
ĐƯỢC.
1.
Khơi dậy và phát huy tiềm năng của một bộ phận lớn dân
cư.
Mặc dù được chính thức thừa nhận trong vòng 15 năm qua, song kinh tế tư bản tư
nhân đã thể hiện được vị trí của nó trong việc phát triển lực lượng sản xuất của
đất nước.
Sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân đã thu hút nguồn vốn trong dân cư vào
sản xuất kinh doanh, từ đó đẩy mạnh sự phát triển của sức sản xuất xã hội. Với
sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân, nguồn lực trong dân cư được huy động
vào đầu tư, từ đó thúc đẩy sức sản xuất xã hội phát triển. Chẳng hạn, trên địa
bàn thành phố Hà Nội, trong giai đoạn 1990-1995 có 2100 doanh nghiệp tư nhân có
vốn đăng ký là 1.039 tỷ đồng, thì trong giai đoạn 1996-2000, có thêm 4559 doanh
nghiệp với số vốn đăng ký là 5517,5 tỷ đồng. Trong giai đoạn 1996-2000, tổng đầu
tư toàn xã hội trên địa bàn Hà Nội là 66.268,1 tỷ đồng, thì đầu tư của khu vực
tư nhân là 11.654 tỷ, chiếm 18%. Đến nay Thành phố đã có khoảng 19.000 doanh
nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động với tổng số vốn đăng ký gần 27.000 tỷ
đồng.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, đầu tư của thành phần kinh tế tư bản tư nhân cũng
tăng nhanh, năm 2000 đầu tư của thành phần kinh tế tư bản tư nhân chiếm 14,2%,
nhưng 6 tháng đầu năm 2001, đã tăng lên 18,5% vốn đầu tư toàn thành
phố.
Phát triển kinh tế tư bản tư nhân góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động, khắc phục tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Trên địa bàn
cả nước, thành phần kinh tế tư bản tư nhân có tốc độ tăng trưởng việc làm cao
nhất.
Trong số 2,5 triệu lao động đang làm việc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có
74% làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân và cá thể . Trên địa bàn Hà
Nội, số lao động làm việc trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân tăng lên từ
12.050 người thời kỳ 1990-1995 lên 91.060 người giai đoạn 1996-2000, tăng 7,56
lần. Hiện tại trên địa bàn Hà Nội có 115.000 lao động làm việc trong khu vực
kinh tế tư bản tư
nhân.
Tổng sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng trưởng liên tục
trong những năm gần đây. Năm 1996, GDP khu vực kinh tế tư bản tư nhân đạt 68.518
tỷ đồng, đến năm 2000 lên 86.926 tỷ đồng, tăng bình quân 6,12%/ năm. Trong đó
GDP của các hộ kinh doanh cá thể từ 52,196 tỷ đồng năm 1996 lên 66.142 tỷ đồng
năm 200, tăng bình quân 6,11%/năm; của doanh nghiệp tư nhân từ 16.349 tỷ đồng
lên 20.787 tỷ đồng, tăng bình quân 6,18%/năm. Trong những năm 2001-2003 đóng góp
GDP của khu vực kinh tế tư bản tư nhân vẫn tiếp tục tăng và góp phần lớn vào sự
thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế . Thể hiện qua bảng số
liệu:
Đơn
vị %
|
|
2001
|
2002
|
2003
|
|
Tăng
trưởng GDP
Theo
thành phần kinh
tế:
-Kinh
tế nhà
nước
-Kinh
tế tư bản tư
nhân
-Kinh
tế có vốn đầu tư nước
ngoài
|
9,5
4,0
3,7
1,8
|
10,2
4,3
3,8
2,1
|
11,2
4,1
4,7
2,4
|
Tổng sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng rất rõ rệt nhat
là năm 2003 vừa qua thể hiện sự đóng góp ngày càng to lớn vào sự phát triển của
đất nước.
2.
Thúc đẩy hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị
trường tạo sự cạnh
tranh.
Với
chủ truơng đa dạng hoá các thành phần kinh tế, bên cạnh các doanh nghiệp Nhà
nước, sự xuất hiện và phát triển các doanh nghiệp kinh tế tư bản tư nhân tạo ra
môi trường phát triển mới. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hợp tác
và cạnh tranh với nhau để phát triển, làm cho thị trường ngày càng trở nên sôi
nổi. Sự cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ của pháp luật, làm cho các doanh
nghiệp phai tìm cách đối phó với những vấn đề khó khăn trong quá trình hoạt
động. Để giải quyết những vấn đề đó doanh nghiệp phải biết cách trang bị cho
minh một lực lượng tốt với những cán bộ công nhân có trình độ cao. Phát triển
kinh tế tư bản tư nhân sẽ tạo ra một đội ngũ những nhà doanh nghiệp theo đúng
nghĩa xủa từ này: nămng động, nhạy bén, dám nghĩ dam làm, sẵn sàng chịu mọi thử
thách của thị trường, tự chịu trách nhiệm. Những cơ sở kinh doanh của khu vực
kinh tế tư bản tư nhân không những là cơ sở thu hút lao động, giải quyết việc
làm mà còn là những lò luyện cán bộ sau khi tốt nghiệp các trường. Chưa bao giờ
trên đất nước ta lại xuất hiện nhiều gương mặt các nhà doanh nghiệp trẻ nhạy bén
và năng động như những năm qua. Đây chính là nguồn cung cấp đội ngũ cán bộ cho
mọi ngành, mọi
cấp.
II.
NHỮNG TỒN TẠI VÀ YẾU
KÉM.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được kinh tế tư bản tư nhân cũng còn một số hạn
chế, tồn
tại.
1.
Qui mô nhỏ, năng lực và sức cạnh tranh hạn
chế.
Tình
trạng qui mô nhỏ bé là một vấn đề cản trở rất lớn tới sự phát triển của khu vực
kinh tế tư bản tư nhân. Trung bình mỗi hộ kinh doanh phi nông nghiệp có số vốn
kinh doanh là 29,78 triệu đồng, sử dụng 1,78 lao động; đối với hộ kinh doanh
nông nghiệp cũng có qui mô nhỏ, sử dụng lao động gia đình, mặt bằng canh tác(mặt
đất, mặt nước) bình quân chỉ 0.8ha/hộ; trong đó các doanh nghiệp thì số doanh
nghiệp có đướ 50 lao động chiếm 90,09%, bình quân vốn sử dụng một doanh nghiệp
chỉ là 3,7 tỷ
đồng.
Mức độ trang bị vốn/lao động của khu vực kinh tế tư bản tư nhân nhìn chung còn
quá nhỏ bé; đặc biệt là các hộ gia đình trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp mới
có11,39tr.đ/lao động; trong khu vực doanh nghiệp công nghiệp của kinh tế tư bản
tư nhân cũng mới có 63,2 tr.đ/lao động. Đa phần trong số vốn của các doanh
nghiệp bỏ ra là để thuê mặt bằng sản xuất, xây dựng nhà xưởng…Do đó, cơ sở không
có điều kiện để mua sắm máy móc thiết bị, kỹ thuật sản xuất lạc
hậu.
2.
Máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu và nguồn nhân lực hạn
chế.
Khu vực kinh tế tư bản tư nhân còn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hiệu
quả sản xuất, kinh doanh trong khoảng thời gian dài đảm bảo sức cạnh tranh cần
thiết, nhất là khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, do máy móc thiết bị
công nghệ còn lạc hậu mà nguyên nhân sâu xa là do vấn đề vốn trong các doanh
nghiệp, và công ty, trong điều kiện vốn quá ít, chỉ nguyên số vốn doanh nghiệp
bỏ ra cho việc thuê mặt bằng sản xuất xây dựng nhà xưởng.. đã làm cho doanh
nghiệp không có điều kiện để mua sắm máy móc thiết bị, vì thế kỹ thuật sản xuất
lạc hậu.
Hiện nay khu vực kinh tế tư bản tư nhân tiếp cận với nguồn vốn của Ngân hàng Nhà
nước còn quá ít. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước số 1227/NHNN-CSTT cho thấy
doanh số cho vay của các Ngân hàng thương mại đối với khu vực kinh tế tư bản tư
nhân phi nông nghiệp mới chiếm 15,7% trên tổng số cho vay của ngân hàng
(năm2000); 24,3%(6 tháng đầu năm 2001). Các hộ kinh doanh cá thể (không kể hộ
nông dân) được vay chiếm tỷ lệ rất thấp, lai giảm từ 2,75(năm 2000)xuống còn
2%tổng số vốn vay của ngân hàng(6 tháng đầu năm 2001). Do không tiếp cận được
với nguồn vốn của ngân hàng nên khu vực kinh tế tư bản tư nhân phải vay
“nóng”của dân cư, làm giảm lợi nhuận kinh doanh và khả năng nâng cáp máy móc
trang thiết bị là rất khó
khăn.
Mặc dù dân số trong độ tuổi lao động của nước ta là rất lớn, nhưng để kiếm được
một lao động có trình độ kỹ thuật tay nghề cao thì rất hạn chế, bởi khả năng đào
tạo tay nghề còn rất hạn chế và khổng đủ điều kiện để có thể đáp ứng đủ yêu cầu
đối với một lao động có tay nghề cao. Vì thế, hầu hết các công nhân có trình độ
tay nghề cao thì thường tìm đến các công ty của nước ngoài, công ty liên doanh
để làm việc. Tình trạng khu vực kinh tế tư bản tư nhân có nguồn nhân lực hạn chế
là khá phổ
biến.
3. Thiếu
mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn
định.
Đa số số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư bản tư nhân mới được thành
lập trong mấy năm gần đây, phần nhiều không có mặt bằng để sản xuất kinh doanh
nên phải sử dụng một phần diện tích nhà ở của mình trong khu dân cư để làm mặt
bằng sản xuất, gây ảnh hưởng tới môi trường sống của dân cư như tiếng ồn, ô
nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí…Nhiều doanh nghiệp phải đi thuê mặt bằng để
sản xuất, kinh doanh,chi phí thuê đất phải trả giá cao hơn nhiều lần so với giá
qui định của nhà nước, dẫn đến chi phí sản xuất cao, tỷ suất lợi nhuận thấp. Mặt
khác, do mặt bằng thuê của các hộ dân cư trong thời hạn ngắn (hợp đồng chỉ kéo
dài từ 3 đến 6 tháng vì các hộ thường điều chỉnh giá tăng lên)nên người đi thuê
không giám đầu tư xây dựng, sản xuất không ổn định. Nhà nưởctung ương và địa
phương nên thu hồi quĩ đất đã giao cho các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị
hành chính sự nghiệp nhưng hiện vẫn chưa sử dụng, sử dụng sai mục đích hoặc sử
dụng kém hiệu quả cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư bản tư nhân thuê
với giá cả và thời hạn hợp lý để họ yên tâm đầu tư xây dựng nhà xưởng phục vụ co
sản xuất, kinh
doanh.
4.
Thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Mặc dù khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã được sự khuyến khích của nhà nước,
nhưng khả năng cạnh tranh của chúng còn rất kém đặc biệt là trên thị trường quốc
tế. Do vốn ít nên làm ăn cũng chỉ ở quy mô nhỏ, làm đến đâu đòi hỏi phải tiêu
thụ sản phẩm ngay đến đó. Nếu tiêu thụ sản phẩm chậm, hoặc do bên mua thanh toán
tiền chậm dễ dẫn tới tình trạng ngừng trệ sản xuất. Vì thế khả năng cạnh tranh
kém và yếu tố ổn định trong kinh doanh rất hạn chế dẫn đến thiếu thị trường
tiêu thụ.
Yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất cao, kèm theo vấn đề mặt bằng trong sản
xuất kinh doanh lớn…Làm cho giá thành sản phẩm lớn, sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thị trường giảm cũng là nguyên nhân dẫn đến thị trường tiêu thụ của
khu vực kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam còn rất hạn
chế.
III.
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN
CHẾ.
1.
Luật pháp, chính sách cơ chế quản lý vĩ
mô.
Cơ chế chính sách phát triển thành phần kinh tế tư bản tư nhân còn thiếu đồng bộ
và chưa nhất quán nên chưa có một khung khổ pháp lý phù hợp cho kinh tế tư bản
tư nhân phát triển. Trong thực tế, các văn bản pháp luật vẫn còn nhiều quy định
phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc kinh tế Nhà nước với doanh nghiệp
tư nhân, tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳng và làm cho tâm lý thiếu tin tưởng
vẫn còn tồn tại trong các chủ doanh nghiệp thuộc kinh tế tư bản tư nhân. Các
doanh nghiệp tư nhân còn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng nhà
nước, bị hạn chêa về điều kiện sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, điều kiện
vay vốn tín dụng để bổ sung cho vốn tự có; thiếu thông tin và thiếu sự rõ ràng,
minh bạch trong các chính sách của nhà nước đối xử giữa các thành phần kinh tế
nhà nước và thành phần kinh tế tư bản tư nhân; thiếu khuôn khổ pháp lý về quyền
sử dụng đất; chư có những khuyến khích đầu tư vào các ngành, các vùng khó khăn;
khả năng tiếp cận trực tiếp với thị trường nước ngoài để mua nguyên liệu đầu vào
và bán sản phẩm đầu ra…Cùng với tiến trình đổi mới kinh tế, Việt Nam đã từng
bước ban hành một khuôn khổ pháp lý bao quát phần lớn các mặt hoạt động của kinh
tế thị trường. Tuy vậy, đến nay, hệ thống luật pháp này vẫn còn thiếu, chưa đồng
bộ và vẫn chưa tạo mặt bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp
tư nhân. Bên cạnh đó, thủ tục đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp tư
nhân còn rất phức tạp và rắc rối, với rất nhiều các loại giấy phép kinh doanh
nhiều ngành nghề còn qui định mức
vốn.
3. Thiếu
một môi trường ủng hộ cho sự phát triển thành phần kinh tế tư bản tư
nhân.
Bên
cạnh những chuyển biến rõ rệ, hiện nay, nhận thức cúa cán bộ, đảng viên và nhân
dân đối với chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân của Đảng
vẫn còn những điều chưa thống nhất cao, ảnh hưởng tới sự phát triển của khu vực
này như: đặc điểm và vai trò cụ thể của khu vực kinh tế tư bản tư nhân nước ta
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và trong suốt
qú trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế; định hướng
chiến lược phát triển khu vực kinh tế tư bản tư nhân về phạm vi, quy mô, trình
độ nói chung và trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh
tế.
Các ngành địa phương còn lúng túng trong việc cụ thể hoá và thực thi chủ trương
của Đảng về phát triển kinh tế tư bản tư nhân vào ngành mình, địa phương mình;
có nơi còn có phần e ngại, dè dặt, có tâm lý sợ chệch hướng khi thúc đẩy phát
triển kinh tế tư bản tư
nhân.
Bàn về kinh tế tư bản tư nhân nói chung và kinh tế tư bản nói riêng đang tồn tại
và phát triển ở nước ta còn đụng chạm đến khía cạnh tình cảm cách mạng của người
cộng sản, tức là vấn đề bóc lột. Lẽ nào sau bao nhiêu năm đấu tranh chống CNTB,
đế quốc, giải phóng dân tộc rồi, chúng ta lại chấp nhận cho mở rộng phạm vi kinh
doanh TBCN, kể cả cho tư bản nước ngoài vào đầu tư thuê mướn nhân công để bóc
lột người lao động? đã có nhiều cuộc hội thảo về vấn đề này, nhưng đến đại hội
IX vừa rồi khẳng định đảng viên không được bóc lột, nhưng để hiểu thế nào là bóc
lột thì cần tiếp tục hội thảo cho rõ. Do đó, đảng viên làm kinh tế tư bản tư
nhân giống như những người đang chờ luận tội. Đây là một vấn đề tế nhị. Về mặt
lý luận cơ bản, Mác đã chứng minh nguồn gốc lợi nhuận, lợi tức, địa tô CNTB …
đều từ giá trị thặng dư của công nhân làm thuê mà có. Giai cấp tư sản cùng với
nhà nước của nó đã hình thành một chế độ bóc lột lao động thặng dư của giai cấp
công nhân bằng nhiều hình thức. Kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta tồn tại và phát
triển trong những điều kiện nào? Trong thời kỳ quá độ, với nền kinh tế nhiều
thành phần, dù chúng ta có nhà nước vững mạnh cũng không thể dùng sắc lệnh như
Mác nói để xoá bỏ những giai đoạn phát triển tự nhiên của sự vận động xã hội, mà
chỉ có thể “rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đó”. Lý tưởng và thực trạng
bao giờ cũng có khoảng cách. Phải đấu tranh và xây dựng trong nhiề thế hệ mới
thực hiện được lý tưởng, miễn không nóng vội, chủ quan hoặc xa rời lý tưởng.
Điều đáng quan tâm trên bình diện chống bóc lột trong xã hội ta hiện nay là phải
kiên quyết chống bọn tham nhũng vì chính chúng là kẻ bóc lột siêu giai cấp tệ
hại nhất đang rút rỉa của cải của nhà nước và nhân dân để làm giàu bất chính,
phản bội lý tưởng cao đẹp của chúng
ta.
Bên cạnh đó, đa số người lao động cho rằng làm việc cho các doanh nghiệp nhà
nước mới thật yên tâm ốn định lâu dài, còn doanh nghiệp tư nhân là tạm thời và
không ổn định , cho rằng công nhân trong doanh nghiệp nhà nước mới là giai cấp
lãnh đạ, trong khi đó những người lao động khác do không còn cách nào mới phải
vào làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân. Những người hành nghề kinh
doanh trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân hiện nay trên thực tế vẫn chưa được
coi trọng như công nhân, cán bộ trong khu vực kinh tế nhà
nước.
3.
ý chí kinh doanh, tâm lý đầu tư của các chủ doanh nghiệp còn
thấp.
Với những tồn tại và yếu kém như đã nêu ở trên, qui mô nhỏ, máy móc, thiết bị
công nghệ lạc hậu…Thì việc thu hút các nguồn đầu tư là rất khó khăn. Mặt khác,
các chủ doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mà họ cho là nguy
hiểm, làm cho sự phát triển hay đổi mới trong hướng kinh doanh vẫn chưa có những
bước đột
biến.
Trình
độ của các cán bộ kỹ thuật còn thấp kém, tay nghề chưa cao , hàng hoá làm ra với
giá lớn không đủ sức để cạnh tranh trên thị trương, mà nhất là thị trường nước
ngoài , danh tiếng thương hiệu của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam ít khi được
quảng bá hay có tiếng trên thị trương thế
giới.
Việc triển khai Luật doanh doanh nghiệp trong thời gian qua đã tạo ra môi trường
kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều
biểu hiện vi phạm. Một doanh nghiệp của tư nhân lợi dụng sự cởi mở của Luật
doanh nghiệp để khai man, tự lấy tên, địa chỉ các cá nhân khác để đăng ký thành
lập công ty, hình thành pháp nhân giả trong tư cách là sáng lập viên hoặc giám
đốc công ty, tình trạng một số doanh nghiệp tư nhân làm hàng giả , vi phạm bản
quyền về sở hữu công nghiệp, cnạh tranh không lành mạnh, buôn lậu, gian lận
thương mạicó chiều hướng gia tăng…
http://tailieuvang.blogspot.com/2012/12/vai-tro-thuc-trang-cua-kinh-te-tu-ban-tu-nhan-danh-gia-kinh-te-tu-ban-tu-nhan-va-mot-so-phuong-huong-giai-phap.html
CHƯƠNG
V
PHƯƠNG
HƯỚNG GIẢI
PHÁP
I.
PHƯƠNG
HƯỚNG.
1.
Xác định đúng vai trò của kinh tế tư bản tư nhân, cải thiện nhận thức xã hội về
thành phần kinh tế
này.
Theo
điều tra của MPDF thì hình ảnh của kinh tế tư bản tư nhân trong nhận thức xã hội
là không thuận lợi với những đặc điểm tiêu cực như tính bấp bênh, năng lực hạn
chế, ít cơ hội phát triển, mặc cảm làm thuê…Để giải quyết vấn đề này, mấu chốt
quan trọng nhất là các nhận định của Đảng và Chính phủ trong các văn bản, nghị
quyết chính thức về kinh tế tư bản tư nhân nói riêng và phát triển kinh tế nói
chung phải thực sự coi kinh tế tư bản tư nhân như một bộ phận tích cực và năng
động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tiếp xúc thường
xuyên giữa các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước với các đại diện của
nền kinh tế tư bản tư nhân là một trong những hoạt động có hiệu quả nhất nhằm
thay đổi hình ảnh cố hữu về doanh nghiệp tư nhân trong quảng đại quần chúng. Các
hoạt động báo chí tuyên truyền cũng cần phải tập trung hơn vào những ưu điểm của
kinh tế tư bản tư nhân. Kết quả điều tra gần đây tại Trung Quốc cho thấy, thay
đổi nhận thức xã hội còn quan trọng hơn nhiều so với việc cải thiện môi trường
luật pháp. Nếu không có được sự cải thiện mạnh mẽ trong nhận thức xã hội đối với
kinh tế tư bản tư nhân thì mọi chính sách, dù là rất thuận lợi với kinh tế tư
bản tư nhân, cũng khó được thực hiện. Đảng và Chính phủ cần khuyến khích sự phát
triển của một tâng lớp doanh nhân Việt Nam, đề cao tinh thần và niềm tự hào dân
tộc. Tiến tới xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có trình độ kỹ thuật cao và
quản lý
giỏi.
2.
Chính phủ có sự phối hợp chặt chẽ với nhà kinh
doanh.
Chính phủ có sự phối hợp chặt chẽ với các nhà kinh doanh trong việc xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế. Các kế hoạch này cần có một sự mềm dẻo linh hoạtphù
hợp với điều kiện của thị trường. Hoạt động này tạo điều kiện cho các đại diện
ưu tú nhất của kinh tế tư bản tư nhân tham gia vào những hoạt động chính trị xã
hội và qua đó chính phủ tạo ra những ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh tế tư bản
tư nhân cũng như hệ tư tưởng của họ. Đây chính là quá trình hợp tác hoá sự lãnh
đạo chuyên chính của Đảng đối với các thành phần khác trong nền kinh tế nhiều
thành phần. Sự chuyên chính này sẽ được hợp pháp hoá trong hiến pháp và pháp
luật, nhưng một khi nó được hợp thức hoá trong chính sách thì nó sẽ tạo ra sự
phục tùng tự nguyện của các thành phần trong nền kinh tế đối với đảng cầm quyền.
Bằng cách này có thể chuyển biến kinh tế tư bản tư nhân từ vị trí “con nuôi” trở
thành “con đẻ” trong nền kinh tế Việt
Nam.
3.
Đầu tư mạnh mẽ vào giáo
dục.
Đầu
tư mạnh mẽ vào giáo dục trong đó bắt đầu từ giáo dục phổ thông và chú trọng vào
giáo dục nghề. Theo kinh nghiệm phát triển của các nước Đông á và Đông Nam á thì
đầu tư vào giáo dục là bước đầu tư quan trọng nhất cho sự phát triển. Vào đầu
những năm 60 khi Hàn Quốc và Singapore, Đài Loan còn có mức thu nhập bình quân
đầu người rất thấp thì họ cũng đã có một nền giáo dục phát trển gấp nhiều lần so
với các nước đang phát triển khác. Các doanh nghiệp tư nhân khi mới thành lập
hoặc mở mang hoạt động thì yếu tố quan trọng nhất là đội ngũ lao động có tay
nghề giỏi. Họ sẽ không phải mất nhiều thời gian cũng như kinh phí để đào tạo,
như vậy yếu tố rủi ro cũng giảm xuống. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay khi
đội ngũ lao động kỹ thuật còn rất hạn chế, cộng thêm những nhận thức không mấy
thiện cảm về kinh tế tư bản tư nhân thì khả năng thu hút của kinh tế tư bản tư
nhân đối với đội ngũ lao động giỏi là rất hạn chế. Kết quả nghiên cứu của trung
tâm kinh tế quốc tế Canbera, Australia về kinh tế tư bản tư nhân Việt Nam cho
thấy điều cơ bản là phải chuyển đội ngũ lao động từ khu vực Nhà nước sang khu
vực tư nhân, từ những khu vực được bảo hộ sang những khu vực có khả năng cạnh
tranh. Tuy nhiên để làm được điều đó thì đội ngũ lao động phải được trang bị đầy
đủ những kỹ năng cần thiết để họ có thể đáp ứng được những nhu cầu của thị
trường. Giáo dục phổ thông cần chú trọng hơn vào việc rèn luyện ý thức xã hội,
khả năng sáng tạo và tinh thần nỗ lực của học sinh làm cơ sở cho hệ thống giáo
dục sau
này.
4.
Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ, chú trọng cung cấp thông tin và ứng dụng
công nghệ thông
tin.
Mức
giá của những dịch vụ hàng hoá này còn quá cao dẫn đến chi phí hạ tầng ở Việt
Nam nhìn cung là cao hơn các nước trong khu vực. Trong những năm tới, Nhà nước
cần tiếp tục huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng, có thể
áp dụng hình thức BOT trên những trục giao thông lớn. Hệ thống các dịch vụ hỗ
trợ kinh doanh hiện nay còn quá yếu và thiếu trong khi tại các nền kinh tế phát
triển, dịch vụ thường chiếm 1/3 giá trị đầu vào. Một số chủ doanh nghiệp đã bày
tỏ sự thất vọng khi không thể tìm được các thông tin cần thiết về thị trường
tiêu thụ cũng như các nhà cung cấp, giá cả… để có được sức mạnh cần thiết khi
đàm phán với các đối tác. Để khắc phục những khó khăn trên đây, nên chóng có một
khung pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các hiệp hội tư nhân. Những
hiệp hội này sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc phối hợp hoạt động và cung cấp
thông tin cho các doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó có thể thành lập được các
trung tâm cung cấp thông tin của Nhà nước với giá cả có thể chấp nhận
được.
5.
Nâng cao khả năng tiếp cận của doanh nghiệp tư
nhân.
Nâng
cao khả năng tiếp cận của doanh nghiệp tư nhân với 2 nguồn lực kinh doanh chủ
yếu khác là vốn và đất đai. Mặc dù các doanh nghiệp tư nhân rất năng động trong
việc huy động vốn và có khả năng huy động vốn một cách có hiệu quả những nguồn
vốn trong các tầng lớp dân cư. Nhưn phương thức huy động không chính thức chỉ
cho phép hốc được một lượng vốn hạn chế và khó có thể đáp ứng được những nhu cầu
lớn về vốn nhằm thay đổi máy móc thiết bị, công nghệ và mở rộng thị trường.
Những quy định khắt khe về thế chấp đối với các doanh nghiệp tư nhẩntong khi các
doanh nghiệp nhà nước không cần thế chấp cũng có thể vay được khiến cho những
dòng vốn hạn hẹp lại tiếp tục được rót vào khu vực Nhà nước. Vay vốn ngân hàng
cũng là một hình thức chia sẻ rủi ro trong kinh doanh của các doanh nghiệp tư
nhân. Nếu chủ doanh nghiệp phải bỏ toàn bộ vốn thì có nghĩa là họ phải gánh chịu
toàn bộ rủi ro. Và như vậy sẽ hạn chế mong muốn và khả năng đầu tư của các chủ
doanh nghiệp đồng thời hệ thống ngân hàng sẽ không phát huy được vai trò tích
cực vốn có của nó. Để giải quyết vấn đề này, cần có một sự cải tổ lớn trong
phương thức hoạt động và tư tưởng của hệ thống ngân hàng đi đôi với duy trì kỷ
cương pháp luật nghiêm minh, nghiêm trị những thành phần làm ăn bất
chính.
Một
vấn đề khác là đất đai. Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước có thể dễ dàng trong
việc có được đất cũng như quyền sử dụng đất phục vụ kinh doanh, trong khi các
doanh nghiệp tư nhân gặp khá nhiều khó khăn và trở ngại. Rất nhiều doanh nghiệp
tư nhân hoạt động trên những mảnh đất chưa được đăng ký chính thức hợăc chỉ là
đi thuê với những điều khoản không được bảo đảm. Do vậy đầu tư dài hạn là rất
mạo hiểm và hầu như không thể thực hiện được. Việc tiếp tục mở rộng quyền sử
dụng đất là một trong những biện pháp giúp cho các doanh nghiệp tư nhân có thêm
cơ hội. Mặt khác cần phải điều chỉnh và thực hiện thuế sử dụng đất một cách chặt
chẽ, có hiệu quả nhằm tránh tình trạng sử dụng lãng phí đất đai hiện nay của một
số doanh nghiệp nhà nước cũng như khắc phục hiện tượng đầu cơ đất
đai.
6.
Chú trọng phát triển các ngành phù hợp với điều kiện đất
nước.
Phát
triển kinh tế tư bản tư nhân với một cơ cấu ngành hợp lý, ngành này bổ trợ cho
ngành kia là một cách thức tạo lợi nhuận cao và bảo đảm cho các ngành có sự phát
triển ổn định. Chẳng hạn như, đầu tư các ngành công nghiệp phục vụ cho nông lâm
ngư nghiệp: ngành cơ khí chế tạo máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, các
ngành sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu… cung cấp kịp thời và đầy đủ cho ngành
nông nghiệp
…
Phát
triển nhóm ngành thu hút nhiều lao động tạo điều kiện giải quyết công ăn việc
làm cho đại bộ phận dân cư đang trong độ tuổi lao động, lợi dụng tiềm năng sẵn
có ở các địa phương để khai thác một cách có kế hoạch giúp cho việc sản xuất dễ
dàng. Bên cạnh đó khu vực kinh tế tư bản tư nhân cần biết và thấy được hiệu quả
trong việc phát triển những nhóm ngành nghề tiểu thủ công mĩ nghệ truyền thống
đó là lĩnh vực kinh doanh rất có ý nghĩa vừa giữ được những làng nghề mà vừa dễ
có tiếng tăm trong việc cạnh tranh trên thị
trường.
Tăng
cường hợp tác kinh tế tư bản tư nhân với kinh tế nhà nước để có thể hỗ trợ nhau,
phối hợp hài hoà giữa những nguồn lực mà 2 bên có được để năng suất trong sản
xuất kinh doanh đạt hiệu quả
cao.
II.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ
NHÂN.
1.
Hoàn thiện môi trường pháp lý, quản
lý.
Sự
nhất quán và ổn định tương đối của chính sách, cơ chế tài chính sẽ tạo tâm lý
tin tưởng và điều kiện thận lợi cho việc phát triển của toàn bộ nền kinh tế và
khu vực KTTN. Tuy nhiên khi môi trường và điều kiện kinh doanh đã thay đổi lại
cần có sự điều chỉnh phù hợp để chính sách, cơ chế tài chính không trở thành rào
cản cho sự phát triển. Trước mắt các cơ chế chính sách này còn có sự khác biệt
nhất định giữa các thành phần kinh tế, song về lâu dài cần có sự thống nhất, tạo
môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp trong các thành phần kinh
tế.
Hoàn
thiện cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý doanh nghiệp, đặc
biệt tăng cường sự phối hợp giữa các sở, ngành, quận, huyện trong quản lý nhà
nước đối với các doanh nghiệp sau cấp phép hoạt động… Tiếp tục hoàn thiện môi
trường pháp lý, tạo sự bình đẳng khi tiếp cận các nguồn lực và thi trường;
khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền; bảo vệ môi trường,
chống sản xuất hàng giả…Khuyến khích khu vực kinh tế phi chính thức(tổ chức sản
xuất kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể…) chuyển sang đăng ký hoạt động theo Luật
Doanh
Nghiệp.
2.
Khuyến khích tư nhân đầu tư vào các ngành nghề thúc đẩy kinh tế phát triển theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Ban
hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp: chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ,
chính sách phát triển làng nghề, thủ công nghiệp, chính sách chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông thôn ngoại thành…Xây dựng mô hình công ty mẹ-con, tập đoàn kinh tế,
bao gồm doanh nghiệp nhà nước mạnh làm nòng cốt cùng với các doanh nghiệp cổ
phần, doanh nghiệp ngoài quốc doanh hợp tác sản xuất kinh
doanh.
Trên cơ sở xây dựng các mô hình công ty, tập đoàn kinh tế, cần hướng cho khuvực
kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào các ngành nghề kinh tế theo xu hướng công
nghiệp hoá hiện đại hoá. Đặc biệt là các ngành nghề sản xuất kinh doanh các mặt
hàng truyền thống, nhằm giữ gìn các ngành nghề truyền thống mặt khác bản sắc dân
tộ và độc quyền về thương hiệu là rất vững chắc và ổn
định.
3.
Thiết lập các định chế hỗ trợ kinh tế tư bản tư
nhân.
3.1. Các
giải pháp về vốn, tín
dụng.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư bản
tư nhân giải quyết các khó khăn về vốn, thì cần thực hiện một số giải
pháp.
Xoá
bỏ tình trạng đối xử không bình đẳng trên thực tế trong vay vốn giữa các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tư bản tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.
Điều này đòi hỏi sự nỗ lực, của cả 2 phía doanh nghiệp và ngân hàng thương mại,
sao cho có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa để giải quyết vướng mắc trên. Đối với
doanh nghiệp: một mặt phải tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh và
năng lực tài chính, đáp ứng ở mức cao nhất các yêu cầu về tài sản thế chấp khi
vay vốn để đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Mặt khác phải chủ động xây dựng được các
dự án, kế hoạch kinh doanh khả thi vì điều này sẽ quyết định sự thành công của
doanh nghiệp và bảo toàn được vốn đối với bên cho vay. Các doanh nghiệp phải tạo
được uy tín của mình bằng chính khả năng cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp
trên thị trường bằng tính minh bạch trong sổ sách kế toán, bằng việc sử dụng vốn
vay và trả nợ vay đúng hạn. Đối với ngân hàng thương mại cần thực sự coi khách
hàng, trong đó có các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư bản tư nhân là
đối tượng phục vụ, là mục đích tự thân của mình, giúp doanh nghiệp xây dựng các
dự án khả thi, cùng doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn, nâng cao khả năng vay vốn
và hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Các tổ chức tín dụng cũng cần xây dựng chính
sách tín dụng phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp; chủ động tìm kiếm các dự
án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ vốn vay; mở
rộng hoạt động tín dụng theo nguyên tắc tự kinh doanh, tự chịu trách nhiệm, bảo
toàn và phát triển được vốn; tăng cường khả năng tiếp thị, năng lực thẩm định dự
án, đánh giá rủi ro, năng lực kiểm tra và giám sát vốn
vay.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế tín dụng và đảm bảo tiền vay để vừa đáp ứng
các yêu cầu phát triển kinh tế tư bản tư nhân, phù hợp với thực trạng xã hội và
thị trường: + Bổ sung quyền sử dụng đất là tài sản bảo đảm tín dụng. Các
vấn đề thế chấp về giá trị quyền sử dụng đất, phạm vi đảm bảo tiền vay, qui định
đảm bảo tiền vay hình thành từ vốn vay cũng cần được xem xét, bổ sung cho phù
hợp với điều kiện hiện
nay.
+
Xúc tiến nhanh việc hình thành Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ(không phân biệt thành phần kinh tế) theo QĐ193/2001/TTg ngày 20/12/2001 về
thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN để hỗ trợ
cho các DNVVN trong cá thành phần kinh
tế.
+
Thiết lập và tăng cường mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tư nhân với các tổ
chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tín dụng phi chính thức (vay người thân, vay của
người lao động trong doanh nghiệp, vay của các doanh nghiệp
khác…)
3.2.
Các giải pháp tài chính tạo điều kiện về mặt bằng cho sản xuất kinh
doanh cho các doanh
nghiệp.
Để tháo gỡ các khó khăn, tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất cho các doanh
nghiệp cần sớm thực hiện các giải pháp
sau:
Tháo gỡ các thủ tục vướng mắc để sớm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với các diện tích đất mà các hộ gia đình làm đất ở, đất sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp được nhà nước giao không thu
tiền.
Sửa đổi các quy định để đất ở đã được cấp quyền sử dụng đất; đất đang làm mặt
bằng sản xuất, kinh doanh hoặc đất doanh nghiệp mua lại bằng quyền sử dụng hoặc
đã được giao đất có thu tiền sử dụng đất đều đủ điều kiện được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lâu
dài.
Xoá
bỏ quy định người sử dụng đất kinh doanh đã phải trả tiền để được quyền sử dụng
đất phải trả thêm tiền thuê đất. Cho phép các doanh nghiệp không phân biệt thành
phần kinh tế có quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào liên doanh với
nước ngoài. Hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nhà nước thu hồi và đền bù những diện
tích đất sử dụng sai mục đích hoặc bỏ hoang để cho các doanh nghiệp thuê làm mặt
bằng sản xuất, không yêu cầu cơ sở sản xuất kinh doanh được thuê đất phait tự
tiến hành đền
bù.
3.3
Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân về khoa học công nghệ, bảo hộ
quyền sở hữu công
nghiệp.
Tiến hành khoa học- công nghệ luôn là một yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh
của sản phẩm doanh gnhiệp trên thi trường. Vì vậy chính sách, giải pháp tài
chính cần được thực hiện
là:
Có
chính sách xây dựng các trung tâm tư vấn hỗ trợ phát triển KTTN, các trung tâm
này sẽ trợ giúp các doanh nghiệp trên các khía cạnh như: bồi dưỡng kiến thức
khoa học công nghệ cho các hộ kinh doanh và doanh nghiệp; cung cấp thông tin thị
trường, mở rộng các hoạt động xúc tiến thương mại; hướng dẫn xây dựng và quản lý
dự án đầu tư cho doanh
nghiệp…
Hỗ
trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới, chuyển giao công nghệ; có thuế suất ưu đãi đối
với vật tư hàng hoá nhập khẩu cần ưu đãi; hạch toán chi phí đổi mới, hiện đại
hoá công nghệ được tính vào giá thành sản phẩm. Sớm giảm giá dịch vụ viễn thông,
internet bằng với mức các nước trong khu
vực.
3.4 Các
chính sách về thuế, kế toán và kiểm
toán.
Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế theo hướng: đảm bảo sự công bằng
và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; đơn giản, rõ ràng và tạo thuận lợi cho
các cơ sở sản xuất kinh doanh; hạn chế phiền hà và tiêu
cực
Thực hiện nghiêm các luật thuế, chống lạm thu, thất thu thuế; bổ sung các chế
tài xử lý các vi phạm và chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ. Thực hiện chế độ kê
khai nộp thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh đơn giản hơn cho phù hợp với quy mô
kinh doanh và trình độ quản lý của
họ.
Hoàn thiện hệ thống thuế suất thuế TNDN theo hướng không phân biệt doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Rà soát lại các quy định về
chi phí hợp lý, hợp lệ phù hợp với thực tế nhằm thúc đẩy KTTN phát triển. Sửa
đổi biểu thuế nhập khẩu theo hướng giảm số lượng mức thuế suất, không phân biệt
thuế suất theo mục đích sử dụng; mở rộng danh mục hàng hoá nhập khẩu để thuận
lợi cho viẹc áp mã hàng hoá tính
thuế.
KẾT
LUẬN
Thực
tễn phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy vai trò rất
quang trọng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong giải quyết việc làm, động
viên nguồn vốn, khai thác tài nguyên làm ra nhiều của cải phục vụ nâng cao đời
sống và đóng góp cho đất nước. Phát triển kinh tế tư bản tư nhân, vì thế, là một
trong những điều kiện của phát triển bền
vững.
Đảng và Nhà nước ta đã thấy được vai trò đó của khu vực kinh tế tư bản tư nhân
thể hiện trong đường lối và những chính sách lớn, bước đầu đã tạo ra điều kiện,
môi trường cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân và khu vực kinh
tế này đã đạt được những thành tựu nhất
định.
Khu vực kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam tuy có bước phát triển trong những năm
đổi mới nhưng vẫn chưa phát triển đúng mức và còn nhiều hạn chế: tốc đọ tăng
trưởng chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, qui mô sản xuất còn nhỏ bé, manh
mún, do thiếu nhiều điều kiện nên chưa ứng dụng được những thành tựu của khoa
học công nghệ, sản phẩm làm ra có chất lượng thấp, mẫu mã nghèo nàn, sức cạnh
tranh kém. Bộ phận kinh tế tư bản tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài tuy trình độ
khá hơn bộ phận kinh tế tư bản tư nhân trong nước về các mặt trên đây nhưng hiện
vẫn còn chiếm tỷ trọng
nhỏ.
Để phát huy được vai trò vị trí của kinh tế tư bản tư nhân trong giai đoạn công
nghiệp hoá hiện đại hoá, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hơn nữa môi trường thể
chế cho sự phát triển- nhất là cụ thể hoá Luật doanh nghiệp sửa đổi (mới được
ban hành), thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân
phát
triển./.
TÀI
LIỆU THAM
KHẢO
1. Sách:
Phát triển kinh tế tư bản tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa. Trần Ngọc
Bút
NXB
Chính trị quốc gia,
2002.
2. Sách:
Thanh phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân-lý luận và chính sách. TS
Hà Huy Thành(chủ
biên)
NXB
Chính trị quốc
gia.
3. Sách:
Giáo trình Luật kinh
tế
NXB
Công an nhân dân Hà
nội,2002
4. Giáo
trình Kinh tế chính trị
Mác-Lênin
NXB
Chính trị quốc gia Hà nội,
2002
5. Bài:
Vai trò của kinh tế tư bản tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam. Nguyễn Hữu
Oánh
Tạp
chí nghiên cứu kinh tế, số 283-tháng
12-2001.
6. Bài:
Tài chính với sự phát triển kinh tế tư bản tư nhân. Nguyễn Đăng
Nam
Tạp
chí nghiên cứu kinh tế, số9-tháng
9-2002.
7. Bài:
Mấy vấn đề lý luận từ thực tế phát triển kinh tế tư bản tư nhân phi nông nghiệp.
Đào Xuân
Sâm
Tạp
chí nghiên cứu kinh tế, số
9-tháng9-2002.
8. Bài:
Tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước: thực tế từ các nước có nền kinh
tế chuyển đổi. Trương Đông
Lộc
Tạp
chí nghiên cứu kinh tế, số
295-tháng12-2002.
9. Bài:
Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư bản tư nhân
Hà Nội. Nghiêm Xuân
Đạt
Tạp
chí nghiên cứu kinh tế, số
305-tháng10-2003.
10.Bài:
Vấn đề bóc lột của kinh tế tư bản tư nhân và đảng viên làm kinh tế ở
nước ta hiện nay. Trần Bạch
Đằng.
Tạp chí phát triển kinh tế, số
149-tháng3-2003.
11.Bài:
Vấn đề sở hữu và kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta hiện nay. Hồ Trọng
Viện
Tạp chí phát triển kinh tế, số
141-tháng7-2002.
12.
Bài: Chính sách vĩ mô đối với khu vực tư nhân. Lê
Khoa
Tạp chí phát triển kinh tế, số
141-tháng7-2002.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét